You have an old version of Adobe's Flash Player. Get the latest Flash player.
Phóng sự thi đua yêu nước

Chủ tịch Tôn Đức Thắng với phong trào thi đua yêu nước và phong trào thi đua yêu nước hiện nay

23/08/2013
Trong  92 mùa xuân của cuộc đời, đồng chí Tôn Đức Thắng đã dành gần 70 năm hoạt động cho sự nghiệp cách mạng lớn lao của Đảng và dân tộc. Không chỉ là người tiên phong, lãnh đạo phong trào yêu nước của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng chí còn là người có nhiều đóng góp làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc. Những tư tưởng, quan điểm của đồng chí về thi đua yêu nước vẫn còn nguyên giá trị cho tới ngày hôm nay.
Người khởi xướng phong trào công nhân Việt Nam
Hơn 30 năm đầu, từ khi rời quê hương bắt đầu cuộc đời người thợ đến khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đồng chí Tôn Đức Thắng phải trải qua những thử thách vô cùng gian khổ. Từ những năm đầu thế kỷ XX, đồng chí Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, và đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong. Đồng chí là một trong những người công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp.
Đồng chí Tôn Đức Thắng sinh ngày 20-8-1888 trong một gia đình nông dân giàu truyền thống yêu nước, tại Cù Lao Ông Hổ, tổng Bình Thành, tỉnh Long Xuyên, nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Vào thời điểm đó, thực dân Pháp đã mở rộng cuộc xâm lược ra toàn cõi Việt Nam và cũng là thời điểm mà phong trào yêu nước của nhân dân ta phát triển mạnh mẽ ở khắp ba kỳ nhằm chống lại cuộc xâm lược của thực dân Pháp. Tình hình đó đã tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của người thanh niên Tôn Đức Thắng. Ngay khi còn là học sinh của Trường Bách nghệ Sài Gòn, cùng với việc học giỏi nhất trường, Tôn Đức Thắng còn là "người chỉ huy" nhiều cuộc bãi khóa để phản đối sự đàn áp dã man của thực dân Pháp đối với phong trào nông dân ở nhiều nơi.
Tốt nghiệp Trường Bách nghệ với điểm tối ưu (20/20), Tôn Đức Thắng gia nhập hàng ngũ giai cấp công nhân Việt Nam và làm việc tại xưởng sửa chữa tàu thủy Ba Son. Chính tại đây, ở tuổi 24, đồng chí đã lãnh đạo cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son thắng lợi, ghi một dấu ấn đậm nét đầu tiên trong quá trình hoạt động cách mạng của mình. Làm thủy thủ trên các tàu viễn dương, đi tới nhiều nước, ở nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều lớp người có mầu da và tiếng nói khác nhau, đồng chí nhận thức ra một điều là: Ở đâu, người lao động cũng là người cùng khổ, bị bóc lột, đàn áp đến thậm tệ. Tinh thần yêu nước nồng cháy được nâng lên thành tình yêu giai cấp, tình đoàn kết quốc tế thiết tha. Sự kiện người thanh niên Việt Nam Tôn Đức Thắng tham gia cuộc binh biến của hải quân Pháp ở Hắc Hải năm 1919, để ủng hộ và bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga, là một minh chứng cụ thể về tình đoàn kết quốc tế cao cả. Nó đánh dấu một mốc son chói lọi trong lịch sử phát triển và nâng cao mối quan hệ hợp tác và hữu nghị Việt - Xô sau này. Do tham gia cuộc binh biến lịch sử đó, đồng chí buộc phải rời Pháp trở về nước. Sau đó, đồng chí thành lập tổ chức Công hội nhằm tập hợp, đoàn kết, bảo vệ quyền lợi giai cấp công nhân, làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự áp bức, bóc lột của bọn đế quốc và bè lũ tay sai của chúng.
Năm 1925, đồng chí tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Sự kiện đó đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng có tính chất quyết định từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của đồng chí. Đó là điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào phong trào công nhân Sài Gòn do đồng chí tổ chức và lãnh đạo, nhanh chóng nâng cao trình độ tổ chức, trình độ tự giác của giai cấp công nhân, thúc đẩy cuộc đấu tranh ngày càng phát triển. Lịch sử phong trào công nhân và Công đoàn Việt Nam đã khẳng định: Các tổ chức công hội mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người sáng lập là những tổ chức tiền thân của Công đoàn Việt Nam, có vai trò quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào những năm đầu cách mạng vô sản ở nước ta. Đồng chí Tôn Đức Thắng là lớp người đầu tiên tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lê-nin trong giai cấp công nhân Việt Nam và tham gia hoạt động tích cực trong quá trình vận động thành lập chính Đảng của giai cấp vô sản Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, phong trào công nhân ngày một mạnh mẽ và trưởng thành nhanh chóng
Đọc cuốn "Sơ lược lịch sử Côn Đảo" do Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo ấn hành cho thấy, đồng chí là một trong những đảng viên cộng sản lớp đầu tiên bị kẻ địch giam cầm ở đây lâu nhất. Gần 17 năm bị tù đày ở Côn Đảo, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cũng chính tại Côn Đảo, đồng chí đã tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở đó và tích cực tham gia đấu tranh chống chế độ lao tù hà khắc của thực dân Pháp.
Những đóng góp to lớn đối với công tác thi đua khen thưởng
Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, tại Hội nghị cán bộ toàn xứ Nam Kỳ họp ngày 15-10-1945, đồng chí Tôn Đức Thắng và các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng... được bầu vào Xứ ủy. Giữa năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương đón đồng chí ra Hà Nội. Với uy tín lớn lao trong Đảng, trong nhân dân và phẩm chất cách mạng, đạo đức trong sáng, đồng chí đã được giao nhiều trọng trách quan trọng. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí lần lượt đảm nhận các chức vụ : Tổng Thanh tra của Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua ái quốc Trung ương, Trưởng Ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Liên Việt toàn quốc (từ 7-3-1951 đến 10-9-1955), Hội trưởng Hội Hữu nghị Việt Nam - Liên Xô, liên tục là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa II đến lúc Bác ra đi.
Theo Sắc lệnh số 195-SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 1/6/1948, Ban Vận động thi đua ái quốc Trung ương được thành lập, bao gồm các thành viên là các đại biểu Chính phủ, quốc hội và các đoàn thể nhân dân. Ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc. Cuối năm 1948, Ban Vận động Thi đua ái quốc Trung ương chuyển từ Định Hóa, Thái Nguyên sang Đồng Man, thôn Tân Lập, xã Tân Trào ở và làm việc cùng các cơ quan: Mặt trận Việt Minh, Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Tổng Bí thư...  Ban Vận động Thi đua ái quốc Trung ương lúc này có khoảng 10 người, đồng chí Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban. Trên cương vị công tác của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng đóng vai trò quan trọng trong việc làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương của Đảng về thi đua yêu nước trở thành động lực của cuộc kháng chiến kiến quốc.
Để tăng cường hơn nữa công tác thi đua khen thưởng, tháng 11/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng chí Trưởng Ban Vận động Thi đua ái quốc Trung ương trao đổi về công tác huấn luyện cán bộ, về việc khen thưởng và các danh hiệu thi đua.  Thực hiện sự chỉ đạo Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thời gian ở và làm việc tại Đồng Man, xã Tân Trào, Ban Vận động Thi đua ái quốc Trung ương do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban đã phát động phong trào thi đua nhằm mục đích: “Tích cực cầm cự, chuẩn bị tổng phản công” diệt giặc đói, diệt giặc ngoại xâm. Ban Vận động Thi đua Ái quốc đã đặt ra kế hoạch và nội dung thi đua trên khắp các mặt trận: Quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa... ở đâu hội viên cũng phải là người gương mẫu, đi tiên phong, kết quả phải thiết thực. Ngay từ khi mới đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban Vận động Thi đua ái quốc, đồng chí Tôn Đức Thắng đã quan tâm đến việc đổi mới công tác thi đua khen thưởng. Để đảm bảo tốt việc thi đua, ngày 19/11/1948, Ban Vận động Thi đua Ái quốc đã có công văn đệ trình lên Chính phủ đề nghị sửa đổi tổ chức thi đua ái quốc, kèm theo công văn là tài liệu về cải tiến tổ chức thi đua ái quốc, quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức, phân công nhiệm vụ, quyền hạn, cách làm việc của ban. Ban đã đặt ra các Tiểu ban: Thi đua, Kiểm tra, Chấm thi giúp cho Ban điều hành, định thể lệ thưởng phạt công minh. Ngoài những hoạt động trên, Ban còn thành lập Tiểu ban tuyên truyền để cổ động thi đua, chú trọng việc ra báo tường, đặc san, sáng kiến trên mọi mặt công tác.  Đối với việc khen thưởng, đồng chí cho rằng: “Nên dè dặt hết sức trong sự phạt thưởng, kỳ nào cũng thế. Nếu phần thưởng đến những nhóm hay người không thật đặc biệt xứng đáng thì làm cho nhân dân hiểu lầm là: “Thì gọi là cũng được rồi.” Làng và tỉnh tìm những phần thưởng trong khu vực mình. Các phần thưởng nên chỉ có tính cách tượng trung mà tốn kém ít. Nên dùng những phần thưởng luân chuyển (ví dụ cờ hay biển), sau mỗi kỳ, người hay nhóm tích cực nhất trong mỗi ngành hay mỗi xã, mỗi tỉnh được giữ.” (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, “Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu”, NXB Văn học, 2013, tr425,426).
Để đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, tại Hội nghị toàn quốc lần thứ ba của Đảng, họp từ 21-1 đến 3-2-1950, do đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo, Trưởng Ban thi đua ái quốc Trung ương Tôn Đức Thắng đã đọc báo cáo:“Đẩy mạnh thi đua nhằm đúng hướng chính”. Với phương pháp tư duy nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, đồng chí đã phê phán nghiêm khắc những khuyết điểm về lãnh đạo và tổ chức đã làm cho phong trào thi đua ít hiệu quả. “Vì thi đua nhiều mà không nhằm hướng chính nên phong trào thi đua thành loãng và dần dần trở nên bình thường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, NXH Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2001,t27). Đồng thời, đồng chí vạch rõ : “Hướng chính của thi đua ái quốc lúc này là động viên nhân lực, vật lực, tài lực để phục vụ tiền tuyến”. Những uốn nắn đó, đã góp phần chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước tiến lên một bước mới; góp phần vào sự lớn mạnh của cuộc kháng chiến đang bước vào giai đoạn mới. Để vạch rõ những thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong cả nước và sự trưởng thành nhanh chóng của các lực lượng vũ trang, đồng chí Tôn Đức Thắng thay mặt Ủy ban Thường trực Quốc hội đã ra lời Hiệu triệu nhân dịp kỷ niệm lần thứ tư ngày toàn quốc kháng chiến. Đồng chí đã khẳng định : “Những thắng lợi trên, đồng bào nên nhớ: Chúng ta đã mua bằng sự gian khổ vô cùng, sự hy sinh tuyệt mực. Nhiệm vụ của mỗi người công dân ta phải giữ vững lấy những chiến thắng ấy và khuếch trương nó ra”.
Tại Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu lần thứ nhất năm 1952, với tư cách đại diện Ban Thường trực Quốc hội và Ủy ban Liên Việt toàn quốc, đồng chí đã căn dặn các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu: “Có được danh dự lớn lao này, các đồng chí tuyệt đối không được tự kiêu, tự mãn, có được vinh dự lớn lao này, các đồng chí lại càng phải ra sức thi đua ái quốc, ra sức học tập đạo đức, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và gương thi đua của Hồ Chủ tịch, ra sức học tập huấn thị của Hồ Chủ tịch trong đại hội này. Các đồng chí càng phải ra sức học tập các bạn bè chung quanh, học tập nhân dân. Ở đây ra về, các đồng chí cần phải ra sức phổ biến những kinh nghiệm thi đua tổng kết được ở các hội nghị và ở đại hội này, để dìu dắt mọi người cùng thi đua, trở thành chiến sĩ thi đua như mình và hơn minh. Ra sức học tập, ra sức sản xuất và chiến đấu để phục vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, phục vụ hòa bình thế giới, đó là nhiệm vụ của các đồng chí”. (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, “Đại hội toàn quốc các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu”, NXB Văn học, 2013, tr63,64).
Dù ở trên cương vị công tác nào, đồng chí cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới các phong trào thi đua của các bộ, ngành, tổ chức, đoàn thể, địa phương. Là Chủ tịch danh dự Ủy ban Thiếu niên nhi đồng Trung ương, đồng chí theo dõi rất sát các phong trào của thiếu nhi, như phong trào “Làm theo lời dạy của Bác Hồ”, phòng trào thi đua “Làm nghìn việc tốt”... và thường xuyên khen thưởng các cháu có thành tích xứng đáng. Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tháng 2-1957 khi Ban Thanh toán nạn mù chữ Trung ương được thành lập, đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Trưởng Ban. Với trách nhiệm đó, đồng chí đã kêu gọi mọi người chưa biết chữ phải đi học để nâng cao hiểu biết, làm tròn nghĩa vụ đối với Tổ quốc, đồng thời, kêu gọi mọi người biết chữ hãy tự nguyện góp sức mình vào “Đội tiên phong trong sự nghiệp diệt dốt” và coi họ là những chiến sĩ trên mặt trận chống lại hậu quả của chính sách ngu dân do thực dân Pháp để lại và là những người mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào. Tuy gần 70 tuổi, đồng chí không quản ngại tuổi